Những điểm thiết yếu trong chẩn đoán

Tình trạng thoái hóa không kèm những dấu hiệu toàn thân.

Đau giảm khi nghi ngơi, cứng khớp buổi sáng nhẹ, biểu hiện viêm khớp là tối thiểu.

Dấu hiệu X quang: hẹp khe khớp, mọc gai xương, đặc xương dưới sụn, các hốc nhỏ đầu xương.

Thường thứ phát sau những bệnh lý khác.

Nhận định chung

Thoái khớp hay hư khớp là một bệnh lý thường gặp, xuất hiện ở mọi lứa tuổi, mọi chủng tộc và ở tất cả các vùng địa lí. Ở Mỹ có ít nhất 20 triệu người lớn mắc bệnh và đến tuổi 40 khoảng 90% dân số sẽ có những dấu hiệu của thoái khớp trên X quang ở những khớp chịu tải. Tỷ lệ mắc bệnh có triệu chứng cũng tăng lên theo tuổi.

Bệnh được đặc trựng bởi sự thoái hóa của sụn và phì đại xương tại các diện khớp. Biểu hiện viêm thường rất nhẹ. Những yếu tố di truyền và cơ học ít nhiều có liên quan đến có chế bệnh sinh của bệnh.

Bệnh thoái khớp (hư khớp) được chia làm 2 loại: (1) Thoái hóa tiên phát, chủ yếu xuất hiện ở khớp ngón xa (hạt Heberden) và sau đó là các khớp ngón gàn (hạt Bouchard), khớp bàn ngón và khớp ngón gần của ngón tay cái, khớp háng, khớp đầu gối, khớp bàn ngón chân cái, cột sống cổ và cột sống thắt lưng; và (2) thoái hóa thứ phát, xuất hiện ở bất kì khớp nào, hậu quả của tổn thương khớp do những nguyên nhân tại khớp (như viêm khớp dạng thấp) hay ngoài khớp. Những tổn thương này có thể là cấp tính, chẳng hạn gẫy xương, hoặc mạn tính do khớp phải làm việc quá sức, do một số bệnh rối loạn chuyển hóa (ví dụ cường cận giáp trạng, bệnh nhiễm sắc tố sắt, bệnh nhiễm sắc tố ochronose) hay những bệnh lý thần kinh (bệnh tabet).

Về mặt giải phẫu bệnh, ban đầu sụn khớp trở nên thô ráp, cuối cùng là mỏng đi và tạo nên các gai xương ở rìa của diện khớp. Màng hoạt dịch dầy lên, các hình lông phì đại. Mặc dù vậy khớp không bao giờ bị dính hoàn toàn và màng hoạt dịch không bị kết dính. Biểu hiện viêm rõ đôi khi có gặp ở một số bệnh nhân bị tổn thương cấp các khớp liên đốt ngón tay (hạt Heberden).

Triệu chứng cơ năng và thực thể

Bệnh khởi phát từ từ, ban đầu có dấu hiệu cứng khớp song hiếm khi kéo dài quá 15 phút. Sau đó xuất hiện đau khớp, tăng lên khi vận động kéo dài và giảm khi nghỉ ngơi. Biến dạng khớp thường không có hoặc rất nhẹ, tuy nhiên đôi khi thấy phì đại xương rõ. Tình trạng co gấp hoặc biến dạng khớp gối ít gặp. Bệnh không gây dính khớp song thường gây hạn chế vận động khớp, đôi khi người bệnh cảm thấy tiếng lạo xạo trong khớp. Tràn dịch khớp và những biểu hiện viêm khớp khác thường nhẹ. Không có triệu chứng toàn thân.

Xét nghiệm

Tốc độ lắng máu không tăng, các xét nghiệm viêm thường là bình thường.

Thăm dò hình ảnh

Trên X quang có biểu hiện hẹp khe khớp, các rìa của diện khớp thường nhọn, mọc gai ở đầu xương, đặc xương dưới sụn. Ngoài ra có thể thấy các hốc nhỏ ở đầu xương.

Chẩn đoán phân biệt

Bởi vì biểu hiện viêm khóp thường rất nhẹ và không có những triệu chứng toàn thân cho hên bệnh thoái khớp rất ít khi nhầm lẫn với bệnh viêm khớp khác. Vị trí tổn thương các khớp ở bàn tay giúp chúng ta phân biệt thoái khớp (hư khớp) và viêm khớp dạng thấp. Thoái khớp chủ yếu ảnh hưởng đến các khớp ngón xa và các ngón gần, ít gặp ở khớp cổ tay và khớp bàn ngón tay. Trong khi đó viêm khớp dạng thấp lại chủ yếu ảnh hưởng đến các khớp cổ tay và khớp bàn ngón tay, ít gặp ở các khớp ngón xa. Hơn nữa, trong thoái khớp, khớp to ra do phì đại của xương nên thường cứng và mát; trái lại khớp sưng trong viêm khớp dạng thấp thường mềm và nóng. Cũng cần phải thận trọng không nên cho rằng mọi triệu chứng ở xương khớp đều do khớp bị thoái hóa, đặc biệt đối với cột sống, bởi vì đi kèm với thoái khớp có thể có di căn ung thư, loãng xương, đa u tủy xương hoặc những bệnh khác.

Bài viết tương tự

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *