Những điểm thiết yếu để chẩn đoán

Mệt, sụt cân, sốt, ra mồ hôi ban đêm.

Ho có đờm. X quang phổi có hình thâm nhiễm.

Phản ứng bì với tuberculin dương tính (trong hầu hết các trường hợp).

Soi đờm trực tiếp có trực khuẩn kháng cồn kháng toan.

Cấy đờm có Mycobacterium tuberculosis

Nhận xét chung

Nhiễm M. tuberculosis bắt đầu khi người có cảm ứng với bệnh này hít phải các hạt nước bọt có chứa trực khuẩn lao sống. Tới phổi, chúng bị đại thực bào phế nang thực bào hoặc bị tiêu hủy hoặc vẫn tồn tại và nhân lên lan truyền theo đường bạch huyết và đường máu trước khi cơ thể có đáp ứng miễn dịch hữu hiệu vây bọc lại bằng các u hạt viêm nhiễm. Đó là lao tiên phát không có triệu chứng biểu hiên. Trong một số trường hợp, đáp ứng miễn dịch không đầy đủ sẽ gây ra lao tiên phát tiến triển biểu hiện bằng các triệu chứng ở phổi và triệu chứng toàn thân. Lây nhiễm theo đường máu từ ổ tiên phát khắp phổi (lao kê), tới khoang màng phổi (tràn dịch màng phổi lao) hay tới các vị trí ngoài phổi (màng não, xương) là biến chứng hiếm gặp của lao tiên phát. Trực khuẩn lao “ngủ” nhưng vẫn còn sống tồn tại nhiều năm và bệnh có thể tái hoạt ở bất cứ vị trí nào (ổ “phổi”, ổ “Simon”) nếu các cơ chế đề kháng của cơ thể giảm sút. Hầu hết lao ở người lớn là do bệnh lao tái hoạt (lao tái hoạt hay lao hậu tiên phát), không phải là nhiễm mới. Tỷ lệ bệnh nhân có biểu hiện không điển hình, đặc biệt ở người lớn tuổi, người nhiễm HIV giai đoạn muộn, chăm sóc tại nhà tăng lên. Lao ngoài phổi đặc biệt hay gặp ở người nhiễm HIV. Những người này thường có viêm hạch lympho hay lao kê.

Người nhiễm HIV thành AIDS hay chưa thành AIDS đều có nguy cơ cao bị mắc lao. Nhiễm HIV nổi lền như một yếu tố nguy cơ quan trọng nhất phát triển bệnh lao. Số mắc lao mới tăng lên đến mức báo động ở Hoa Kỳ từ 1986 có thể có phần đóng góp lớn của dịch HIV. Hầu hết các trường hợp mới bị lao xảy ra ở người HIV dương tính, người thiểu số, người di cư, tị nạn từ châu Á, Trung Mỹ và các tù nhân. Sự tăng dân số ở thành phố, thiếu nhà, lạm dụng thuốc, không được chăm sóc sức khỏe tốt làm cho lao dễ lan rộng.

Các chủng trực khuẩn lao kháng với một hay nhiều thuốc chống lao chủ yếu gặp thấy với tần số tăng đến mức báo động, đặc biệt ở cư dân các đô thị. Các yếu tố nguy cơ gây kháng thuốc bao gồm di dân ở nhiều vùng trên thế giới có tổng số người bị lao kháng thuốc cao, nhiễm HIV, bệnh phổi có hang, tiêm chích ma tuý, tiếp xúc lâu dài và gần gũi với người lao kháng thuốc, điều trị lao không kết qủa, người bệnh không hợp tác với thầy thuốc. Sự bùng nổ lao kháng nhiều thuốc trong các bệnh viện ở Florida và New York có tỷ lệ tử vong 72 – 89%, tỷ lệ sống trung bình 4 – 16 tuần. Tới 90% của trên 200 người được báo cáo là những người HIV dương tính.

Triệu chứng và dấu hiệu

Bệnh nhân lao tái hoạt điển hình có triệu chứng toàn thân mệt mỏi, sụt cân, chán ăn, sốt nhẹ, ra mồ hôi đêm. Các triệu chứng ở phổi có ho lúc đầu khan sau có đờm mủ và đôi khi lẫn máu. Đôi khi có thể không có triệu chứng. Khám thực thể thường là người ốm lâu ngày, sụt cân. Nghe phổi sau khi ho vùng đỉnh phổi có thể có tiếng ran hoặc không.

Xét nghiệm

Chẩn đoán xác định dựa vào việc phát hiện ra trực khuẩn lao trong đờm khi nuôi cấy hay xét nghiệm nhận dạng vi khuẩn bằng thử nghiệm ADN (PCR). Khi có đủ đờm thì tiến hành nhuộm trực tiếp và nuôi cấy. Nên làm 3 mẫu. Ở bệnh nhân không thể có mẫu đờm tốt một cách tự giác thì quy nạp đờm. Nhiều mẫu đờm thường là đòi hỏi của việc chẩn đoán tìm trực khuẩn lao. Phương pháp nhuộm huynh quang bằng fluorochrome rhodamine – auramine đờm là phương pháp sàng lọc đầu tiên, để xác định thì nhuộm Ziehl – Neelsen hay Kinyoun. Có trực khuẩn kháng acid khi soi trực tiếp cũng không xác định được lao vì có thể có các mycobacteria không gây lao hoại sinh cư trú ở đường hô hấp. Dương tính giả khi cấy đờm tìm trực khuẩn lao là rất hiếm.

Những bệnh nhân không có đờm …

Bài viết tương tự

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *